So tháng trước, CPI tháng 4 năm 2026 tăng 1,41%, cụ thể:
- 10 nhóm có chỉ số giá tăng: nhóm giáo dục tăng 0,15%; nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,17%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,2%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,3%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,97%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,75%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,01%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,03%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,16% và nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,08%.
- 01 nhóm có chỉ số giá giảm: nhóm giao thông giảm 0,09%.
1. Giá lương thực:
Giá Lương thực tăng 0,69% so tháng trước. Trong đó, giá gạo tăng 0,9%; riêng gạo tẻ ngon tăng 0,15%, gạo tẻ thường tăng 0,77%, gạo lức tẻ tăng 1,4% do nhu cầu tiêu dùng gạo duy trì ổn định, trong khi hoạt động thu mua lúa gạo phục vụ xuất khẩu tiếp tục diễn ra, góp phần giữ mặt bằng giá ở mức cao. Bên cạnh đó, chi phí vận chuyển và lưu thông tăng nhẹ cũng tác động đến giá bán lẻ. Nhóm lương thực chế biến tăng 0,73% (bánh mì, phở, mì ăn liền, cháo ăn liền…) do chi phí đầu vào như bột mì, nhiên liệu và nhân công tăng, đồng thời nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm chế biến sẵn tiếp tục duy trì tại khu vực đô thị.
Bên cạnh, vẫn có một số mặt hàng giảm giá như: bột mì và ngũ cốc giảm 1,59% do lượng hàng tồn của dịp Tết gần hết hạn sử dụng nên bán giảm giá.
Giá bán các mặt hàng gạo tham gia Chương trình Bình ổn thị trường tháng 4 năm 2026 ở mức:
- Gạo trắng thường 5% tấm là 16.000 đồng/kg (bao bì PP, túi 10kg) và 15% tấm là 15.500 đồng/kg (bao bì PE, túi 5kg).
- Gạo Jasmine: 17.500 đồng/kg (bao bì PP, túi 10kg) và 17.000 đồng/kg (bao bì PE, túi 5kg).
2. Giá thực phẩm:
Giá Thực phẩm giảm 0,18% so tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu tập trung ở một số mặt hàng sau:
- Dầu mỡ ăn và chất béo khác tăng 2,14% do dầu thực vật tăng 2,26%.
- Chè, cà phê, ca cao tăng 2,02% do giá cà phê bột tăng 2,38%, cà phê, ca cao hoà tan tăng 2,12%, chè búp khô tăng 1,64% do tác động tổng hợp của nhiều yếu tố. Trước hết, nguồn cung từ các vùng nguyên liệu có xu hướng giảm cục bộ do ảnh hưởng của thời tiết không thuận lợi và đang trong giai đoạn chuyển vụ, khiến lượng hàng đưa về thị trường thành phố hạn chế. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm đồ uống như cà phê, ca cao tại Thành phố Hồ Chí Minh duy trì ở mức cao, đặc biệt trong bối cảnh hoạt động dịch vụ, du lịch và ăn uống tiếp tục sôi động, góp phần làm gia tăng sức cầu. Ngoài ra, giá cà phê và ca cao trên thị trường thế giới có xu hướng tăng cũng tác động lan tỏa, đẩy giá thu mua trong nước đi lên. Cùng với đó, chi phí đầu vào như vận chuyển, nhân công tăng và hoạt động thu mua phục vụ xuất khẩu diễn ra tích cực đã góp phần làm giá nhóm hàng này tăng so với tháng trước.
- Bơ, sữa, phô mai tăng 1,49%, cụ thể, giá sữa chua tăng 2,32% và giá sữa tươi tăng 1,75%, góp phần kéo mặt bằng giá chung của nhóm đi lên do nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm dinh dưỡng, đặc biệt là sữa và chế phẩm từ sữa, duy trì ở mức cao. Bên cạnh đó, chi phí đầu vào như nguyên liệu sữa bột nhập khẩu, vận chuyển và bảo quản tăng, cùng với việc một số doanh nghiệp điều chỉnh giá bán nhằm bù đắp chi phí, đã làm giá các mặt hàng này tăng so với tháng trước.
Bên cạnh, vẫn có một số mặt hàng tăng giá như:
- Rau tươi, khô và chế biến giảm 2,46%, trong đó một số mặt hàng giảm sâu như cà chua giảm 7,96%, bắp cải giảm 8,71%, đỗ quả tươi giảm 3,72% do nguồn cung rau củ dồi dào vào vụ thu hoạch, thời tiết thuận lợi giúp sản lượng tăng, trong khi nhu cầu tiêu dùng không tăng tương ứng.
- Quả tươi giảm 0,26% do nhiều loại trái cây vào chính vụ, sản lượng tăng làm giá bán giảm; một số mặt hàng như xoài, chuối giảm nhẹ.
3. Giá một số hàng hóa, dịch vụ khác:
- Vật liệu xây dựng:
So tháng trước, giá bán mặt hàng vật liệu xây dựng đều tăng từ 2,16% đến 19,76% như thép cây đốt, cát đen, đá dăm 1x2,gạch xây….Riêng gạch lát nền Trung Quốc giảm 3,64%.
- Gas:
Gas trong nước chịu ảnh hưởng bởi thị trường quốc tế.
Tháng 4 năm 2026, giá gas thế giới ở mức 775 USD/tấn, tăng 232,5 USD/tấn so tháng trước. Cụ thể, giá gas bán lẻ đến tay người tiêu dùng phổ biến ở mức 643.500 đồng/bình 12 kg.
- Xăng, dầu:
Trong tháng báo cáo, giá xăng dầu có 05 lần điều chỉnh, trong đó:
+ Xăng A95 và E5 có 02 lần điều chỉnh tăng (ngày 02 tháng 4 năm 2026 và ngày 21 tháng 4 năm 2026), 03 lần điều chỉnh giảm (ngày 09 tháng 4 năm 2026, ngày 16 tháng 4 năm 2026 và ngày 23 tháng 4 năm 2026).
+ Dầu diesel có 01 lần điều chỉnh tăng (ngày 02 tháng 4 năm 2026), 04 lần điều chỉnh giảm (ngày 09 tháng 4 năm 2026, ngày 16 tháng 4 năm 2026, ngày 21 tháng 4 năm 2026 và ngày 23 tháng 4 năm 2026).
Cuối tháng báo cáo, giá xăng A95 ở mức 22.880 đồng/lít, xăng E5 ở mức 21.830 đồng/lít, dầu diesel ở mức 26.690 đồng/lít.
So tháng trước, giá xăng A95 giảm 1.450 đồng/lít, xăng E5 giảm 1.490 đồng/lít, dầu diesel giảm 8.750 đồng/lít.