Như vậy, căn cứ quy định trên, Ủy ban nhân dân Thành phố lập trình Hội đồng nhân dân Thành phố căn cứ điều kiện thực tế của Thành phố để quyết định cụ thể nguyên tắc, phạm vi, định mức hỗ trợ và việc sử dụng kinh phí hỗ trợ cho các hoạt động được quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định số 112/2024/NĐ-CP.
Căn cứ tại khoản 2 Điều 15 Nghị định số 112/2024/NĐ-CP:
“2. Nguồn kinh phí tại khoản 1 Điều này được sử dụng cho các hoạt động sau:
a) Hỗ trợ cho người sử dụng đất trồng lúa: sử dụng giống lúa hợp pháp để sản xuất; áp dụng quy trình sản xuất, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận; xây dựng mô hình trình diễn; hoạt động khuyến nông; tổ chức đào tạo, tập huấn, liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm;
b) Cải tạo, nâng cao chất lượng đất trồng lúa;
c) Đánh giá tính chất lý, hóa học; xây dựng bản đồ nông hóa thổ nhưỡng vùng đất chuyên trồng lúa theo định kỳ 05 năm/lần;
d) Sửa chữa, duy tu bảo dưỡng các công trình hạ tầng nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn xã;
đ) Hỗ trợ mua bản quyền sở hữu giống lúa được bảo hộ”
Qua rà soát, tại Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (trước sắp xếp) đều chưa trình Hội đồng nhân dân tỉnh/thành phố ban hành Nghị quyết quy định nguyên tắc, phạm vi, định mức hỗ trợ và việc sử dụng kinh phí hỗ trợ sản xuất lúa, bảo vệ đất trồng lúa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Nhằm triển khai đầy đủ các quy định của văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan cấp trên, cũng như đảm bảo hoàn thành công tác rà soát hoàn thiện pháp luật sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội thì việc trình Hội đồng nhân dân Thành phố ban hành Nghị quyết quy định nguyên tắc, phạm vi, định mức hỗ trợ và việc sử dụng kinh phí hỗ trợ sản xuất lúa, bảo vệ đất trồng lúa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh là cần thiết.
Nội dung chính của dự thảo Nghị quyết:
(1) Phạm vi điều chỉnh: Nghị quyết này quy định nguyên tắc, phạm vi, định mức hỗ trợ và việc sử dụng kinh phí hỗ trợ sản xuất lúa, bảo vệ đất trồng lúa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cho các hoạt động quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định số 112/2024/NĐ-CP ngày 11 tháng 9 năm 2024.
(2) Đối tượng áp dụng: Cơ quan nhà nước; người sử dụng đất trồng lúa và các đối tượng khác có liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
(3) Nguyên tắc hỗ trợ:
1. Đất trồng lúa được hỗ trợ: Đất chuyên trồng lúa; đất trồng lúa còn lại, trừ đất lúa nương được mở rộng tự phát không theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa; đất chuyên trồng lúa tại vùng quy hoạch trồng lúa có năng suất, chất lượng cao, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
2. Diện tích đất trồng lúa được hỗ trợ được xác định theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 14 Nghị định số 112/2024/NĐ-CP ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Chính phủ;
3. Việc hỗ trợ đảm bảo tính thống nhất, tập trung dân chủ, tiết kiệm, công khai, minh bạch, công bằng; tuân thủ theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản pháp luật có liên quan. Việc thực hiện, sử dụng nguồn kinh phí hỗ trợ phải đảm bảo tuân thủ theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản pháp luật có liên quan, đảm bảo đúng đối tượng, phạm vi, nội dung và định mức.
4. Kinh phí hỗ trợ sản xuất lúa, bảo vệ đất trồng lúa được phân bổ cho địa phương có đất trồng lúa và cơ quan chuyên môn cấp Thành phố thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ sản xuất lúa, bảo vệ đất trồng lúa; trong trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân Thành phố điều chuyển kinh phí giữa các nhiệm vụ chi theo nhu cầu đảm bảo thiết thực, hiệu quả.
Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan chuyên môn cấp Thành phố chịu trách nhiệm quản lý, phân khai nguồn ngân sách được phân bổ để thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ sản xuất lúa, bảo vệ đất trồng lúa theo quy định.
Các nội dung chi hỗ trợ không trùng lặp với các chính sách hỗ trợ từ nguồn ngân sách khác. Đảm bảo phù hợp theo phân cấp ngân sách và khả năng cân đối ngân sách địa phương.
(4) Phạm vi hỗ trợ:
Kinh phí hỗ trợ sản xuất lúa, bảo vệ đất trồng lúa được phân bổ cho địa phương có đất trồng lúa (trừ diện tích được mở rộng tự phát không theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa) và cơ quan chuyên môn cấp Thành phố thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ sản xuất, bảo vệ đất trồng lúa.
(5) Việc sử dụng kinh phí hỗ trợ và định mức hỗ trợ:
a) Hỗ trợ cho người sử dụng đất trồng lúa: sử dụng giống lúa hợp pháp để sản xuất; áp dụng quy trình sản xuất, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận; xây dựng mô hình trình diễn; hoạt động khuyến nông; tổ chức đào tạo, tập huấn, liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
b) Cải tạo, nâng cao chất lượng đất trồng lúa;
c) Đánh giá tính chất lý, hóa học; xây dựng bản đồ nông hóa thổ nhưỡng vùng đất chuyên trồng lúa theo định kỳ 05 năm/lần;
d) Sửa chữa, duy tu bảo dưỡng các công trình hạ tầng nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn cấp xã;
đ) Hỗ trợ mua bản quyền sở hữu giống lúa được bảo hộ.