SỐ LƯỢT TRUY CẬP

1
6
6
6
6
5
2
6
 
Nội dung tìm:
 
Ngày bắt đầu:
Ngày bắt đầu
Ngày kết thúc:
Ngày bắt đầu
 
Tìm theo:  
Tuần:  
Tháng:  
Năm:  

TÌNH HÌNH GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG THÀNH PHỐ TRONG TUẦN (06/01/2009 - 12/01/2009)

I/ Tổng quan:

- Trong tuần, giá gia cầm tăng; nhiều lọai rau, củ, quả tăng do nhằm ngày chay; giá bia nước ngọt tăng dần . Giá thép xây dựng tiếp tục tăng.

     - Giá vàng giảm nhẹ, trong khi tỷ giá đô la Mỹ nhích lên.

Diễn biến cụ thể:

     1./ Giá vàng và Đôla Mỹ  

    - Tuần qua, do đồng đô la Mỹ phục hồi trở lại khiến nhiều nhà đầu tư đẩy mạnh hoạt động bán ra nên giá vàng trên thị trường thế giới tiếp tục có xu hướng giảm. Sáng ngày 12/01/2009, giá vàng thế giới ở mức 853,1USD/ounce, giảm 18,25USD/ounce (2,1%) so cuối tuần trước. Tại thành phố, giá vàng diễn biến theo giá vàng thế giới, hiện giá bán vàng 999,9 của các Công ty kinh doanh vàng bạc ở mức 1.782.000-1.785.000đ/chỉ, giảm 14.000-15.000đ/chỉ (0,77%-0,84%) so tuần trước. Giá vàng trong nước hiện thấp hơn giá vàng thế giới khoảng 45.000đ/chỉ tính theo tỷ giá trên thị trường tự do (đã tính thuế và phí).    

    - Tỷ giá đô la Mỹ của thị trường liên ngân hàng có xu hướng tăng nhẹ, ngày 12/01/2009 ở mức 16.974đ/USD, tăng 1đ/USD so cuối tuần trước. Giá mua, bán của Ngân hàng Ngoại thương đứng và tăng nhẹ vào những ngày cuối tuần: hiện mua tiền mặt 17.450đ/USD, tăng 80đ/USD so tuần trước, chuyển khoản 17.470đ/USD (+50đ/USD), bán ra 17.483đ/USD (+1đ/USD).

    - Trên thị trường tư nhân, tỷ giá đô la Mỹ tăng vào đầu tuần, sau đó giữ ổn định đến cuối tuần, hiện ở mức: mua 17.480đ/USD, bán 17.580đ/USD, cùng tăng 50đ/USD so tuần trước.

    2./ Giá lương thực, thực phẩm :

        a/ Giá lương thực :

        Giá bán lẻ gạo trắng thường 25% tấm giảm nhẹ 500đ/kg còn khoảng  8.000-9.000đ/kg, gạo nàng thơm chợ Đào đứng ở mức 15.000-16.000đ/kg.

        b/ Giá thực phẩm :       

Thịt heo, bò, gia cầm

    - Lượng thịt heo về các chợ đầu mối nông sản thực phẩm Hóc Môn và Bình Điền tuần qua bình quân 416tấn/ngày, tăng 7tấn/ngày so tuần trước. Giá heo hơi đứng ở mức 35.000đ/kg (heo trại); giá heo bên tại chợ Hóc Môn đứng ở mức 44.000đ/kg nhưng tăng 2.000-3.000đ/kg tại chợ Bình Điền (heo thịt 50.000đ/kg, heo nái 42.000đ/kg); giá thịt heo pha lóc tại các chợ tăng hoặc giảm 1.000-2.000đ/kg: thịt heo đùi 55.000đ/kg, ba rọi 56.000-70.000đ/kg, nạc 57.000-58.000đ/kg. Giá bán lẻ thịt heo đùi tại các chợ đứng, hiện ở mức 66.000-68.000đ/kg.

    - Giá sỉ các mặt hàng gia cầm đứng. Giá bán lẻ gà công nghiệp và gà Tam Hoàng tiếp tục tăng 1.000-3.000đ/kg lên lần lượt 36.000đ/kg và 60.000đ/kg. Giá trứng vịt tăng 100đ/quả lên 1.700đ/quả, giá trứng gà đứng so tuần trước.

Thủy hải sản :

    Tại chợ đầu mối Bình Điền, lượng thủy hải sản tươi tăng 27,7tấn/ngày (5,9%) so tuần trước, lên 495,9tấn/ngày. Một số mặt hàng vào dịp Lễ Tết bán được, giá tăng 1.000-5.500đ/kg (2%-17%) như mực ống, cua, ghẹ, sò huyết, ốc hương, cá thát lát, cá kèo…riêng mực lá loại 3 giá tăng mạnh 15.000đ/kg (30%) lên 65.000đ/kg trong khi một vài mặt hàng giá giảm nhẹ 500-2.500đ/kg (3%-9%) như cá ngân, cá diêu hồng, tôm sú lớn. Lượng thủy hải sản khô về chợ bình quân 17,2tấn/ngày, tăng 2,9tấn/ngày so tuần trước, do hàng về ít, mãi lực tăng nên giá mặt hàng khô mực tăng lại từ 10.000-15.000đ/kg, khô cá sặc tăng 10.000đ/kg trong khi khô cá đù hàng về nhiều giá giảm nhẹ 1.000đ/kg, các mặt hàng khác đứng giá.

Rau, củ , quả :

    - Lượng rau quả về các chợ đầu mối bình quân 5239tấn/ngày, tăng 112tấn/ngày (2,2%) so tuần trước. Do lượng hàng về ít, sức mua lại tăng nên giá bán nhiều loại rau củ tăng mạnh 600-2.500đ/kg (14,3%-55,6%) như bầu, bí đao, cải ngọt, xà lách lụa, cải bẹ xanh, dưa leo, su su, đậu côve…trong khi một vài mặt hàng giá giảm 200-1.000đ/kg (1,4%-13%) như khổ qua, đậu que, gừng nội địa, khoai tây Đà Lạt, riêng củ cải giá giảm mạnh 1.000đ/kg (45,5%) còn 1.200đ/kg.

    - Giá bán các mặt hàng trái cây khá ổn định riêng cam sành giá tăng nhẹ 300đ/kg (2,9%) lên 10.500đ/kg, nho đỏ Phan Rang tăng 700đ/kg (6,8%) lên 11.000đ/kg, thanh long Bình Thuận loại lớn tăng 1.200đ/kg (9,2%) lên 14.200đ/kg.

    3./ Giá vật tự và hàng tiêu dùng khác :

    - So với tuần trước, giá bán các mặt hàng máy in máy vi tính tăng nhẹ 1.000-16.000đ/máy (0,1%-0,2%), một số mặt hàng tăng mạnh 89.000-2.930.000đ/máy (4,6%-9,2%) như LEMARK LASERJET-E120, OKI ML 1190, OKI ML 790, OKI C5800N, OKI C8800N, BROTHER HL-4050CDN…trong khi LEXMARK-Z1320, LEMARK LASERJET - X342N giá giảm 34.000-360.000đ/máy (4,9%%-5,7%) còn lần lượt 664.000đ/máy và 5.908.000đ/máy.

    - Giá bán các mặt hàng phụ tùng xe gắn máy và xe đạp đứng, riêng một vài mặt hàng giá tăng nhẹ 1.000-3.000đ/cái như sên tải DID lọai 9ly là 98.000đ/cái (+3.000đ/cái), sên tải DID loại thường 83.000đ/cái (+1.000đ/cái) và sên cam Nhật 49.000đ/cái (+1.000đ/cái).

    - Ngày 31/12/2008, Tổng Công ty Thép Việt Nam tiếp tục điều chỉnh tăng giá thép, so lần điều chỉnh trước (18/12/2008), giá thép cuộn, tròn trơn và thanh vằn tăng 500đ/kg, hiện giá thép cuộn và tròn trơn ở mức 11.400-11.750đ/kg, thép thanh vằn 11.600-12.010đ/kg (giá chưa có VAT và giao tại nhà máy). Giá thép cuộn Ø6-Ø20 CT2,CT3 trên thị trường khoảng 12.500đ/kg.

    - Giá xi măng đứng hặoc tăng nhẹ: giá xi măng Hà Tiên 1 phổ biến 75.000-78.000đ/bao, xi măng Holcim, Sao Mai 72.000-    76.000đ/bao.

    - Giá thép cuộn trên thị trường tăng 600-2.200đ/kg: giá thép Ø6 phổ biến 12.400-13.200đ/kg, thép cây vằn 10mm 13.200-13.600đ/kg (tùy nguồn).

II/ Giá bán lẻ một số mặt hàng:


STT

Tên mặt hàng

ĐVT

Giá

Giá tăng (+), giảm (-) so với tuần trước

1

 Gạo trắng (thường)

kg

9.000

 

2

 Thị heo hơi (trại lọai 1)

"

35.000

 

3

 Thịt heo đùi

"

68.000

 

4

 Thịt bò đùi

"

140.000

 

5

 Cá lóc 0,5kg

"

32.000

 

6

 Cá bạc má

"

30.000

 

7

 Đường RE (lọai rời) Biên Hòa

kg

10.500

 

8

 Gas Petrolimex

bình 13kg

206.000

 

9

 Phân Urê (Phú Mỹ )

đ/kg

 

 

10

 Xi măng PC.B40 (Hà Tiên)

đ/bao 50kg

73.000

+2.000

11

 Thép XD phi 6 (Cty thép Miền Nam)

đ/kg

12.500

+500

 

1
2 3 4 5 6 7 8 9
Trang tiếp theo Trang cuối

Tìm kiếm